Trà Thái Nguyên trong thơ ca

Trà Thái Nguyên trong thơ ca

Lục giở cổ văn, Trà Thái Nguyên Thái Nguyên trong thơ ca cũng độc đáo. Chỗ nào có thơ, hẳn nơi ấy hiện diện chén rượu, tách trà Thái Nguyên.

  1. Trà Thái Nguyên Thái Nguyên cùng thơ và rượu

Mà không phải chỉ ở xứ ta, khắp trên trái đất. Giữa nhiều khuynh hướng thơ xưa nay có một dòng thơ về rượu, có một dòng thơ về trà Thái Nguyên Thái Nguyên. Một trà Thái Nguyên Thái Nguyên, một rượu, một thơ ca… Và bạn yêu thơ có thể dùng câu trên đối lại câu từng ám ảnh bao trang nam nhi chi chí: Một trà Thái Nguyên Thái Nguyên, một rượu, một đàn bà…

Thơ về trà Thái Nguyên và trà Thái Nguyên với thơ cũng không kém cạnh. Có điều, bổn tính trà Thái Nguyên khiêm cung lại nghiêng về suy tư trầm mặc, chớ không bốc men lửa say sưa tình như rượu, thành thử ít được nổi.

Trà Thái Nguyên Thái Nguyên trong thơ ca rất hay

Trà Thái Nguyên Thái Nguyên trong thơ ca rất hay

Chúng tôi xin bình chọn đa phần từ các câu thơ về trà Thái Nguyên tham dự triển lãm “Trà Thái Nguyên và Thi ca”. Tại “Liên hoan Trà Thái Nguyên – Việt Nam năm 2015” cùng một số câu thơ, tài liệu trong các bài của nhiều tác giả khác nhau.

Nó nằm trong bài cổ tương truyền chữ Hán với 4 câu hiếm ai từng nhấp dù chỉ nửa ngụm trà Thái Nguyên lại không xổ nho chùm: “Bán dạ tam bôi tửu/ Bình minh sổ trản trà/ Nhất nhật cứ như thử/ Lương y bất đáo gia.”

  1. Câu thơ đứng đầu bảng trà Thái Nguyên

Một bậc văn nhân thượng thặng về ngôn từ Việt và ẩm thực Việt, ở tùy bút Chén trà Thái Nguyên trong sương mai, từng chuyển nghĩa: “Mai sớm một tuần trà Thái Nguyên/ Canh khuya dăm chén rượu/ Mỗi ngày mỗi được thế/ Thày thuốc xa nhà ta.”

Một bí quyết sống đời! Khi biết khéo dùng thì trà Thái Nguyên và rượu hàng ngày sẽ như hai chân giữ vững tâm thế con người ta.

Khác với rượu, trà Thái Nguyên được dùng bất kỳ trong ngày nhưng vào mỗi sáng sớm là tuyệt đỉnh. Đó là chân lý giao lưu trà Thái Nguyên giữa khí của đất trời và thần của con người.

Ngày nay y học hiện đại cho thấy trà Thái Nguyên là chất chống ung thư hiệu quả nhất. Qua thiên truyện, Nguyễn tiên sinh đã minh họa rất điệu nghệ chân lý này khi gắn với thi ca: Sớm nay, cụ Ấm cũng ngâm thơ. Và người xưa uống trà Thái Nguyên là để giữ mình cho lành mạnh.

Có điều nơi trang viết súc tích mà dường như chưa bản văn tiếng Việt nào hay hơn khi bàn về dùng trà Thái Nguyên trong buổi sớm. Hứa, chỉ tuyền chuyện trà Thái Nguyên và nếu có bị dính tí rượu vào cũng sẽ thanh tao.

  1. Trà Thái Nguyên trong thơ ca là sự tiếp nối

Nối tiếp Bình minh sổ trản tra thai nguyen, không biết đã có bao nhiêu vần thơ tương tự lưu danh rồi? “Uống trà Thái Nguyên trong nắng sớm/ Vườn tâm đầy hương hoa” của Viên Ngộ, thiền sư sáng lập chùa Lan Nhã từ đầu thế kỷ 19 nổi danh với nhiều giai thoại đem mạng sống của mình hành đạo.

“Sương mai lịm khói trà Thái Nguyên/ Gió lạnh vuốt tờ hoa/ Nhè nhẹ tay nâng bút/ Nghe lòng rộn âm ba.”

Các nhà thơ đương đại khác, mỗi người một cách. Đó là niềm luyến ái khi hạnh phúc nam nữ thăng hoa và hân khoái vào giờ chào ngày mới: “Cùng em nâng chén trà Thái Nguyên hương/ Khi ngày mới chớm khói sương mịt mờ/ Trăm năm thu ngắn một giờ/ An vui hạnh phúc bên bờ thần tiên.”

Còn Trần Ngọc Tuấn phải đối diện trước bàn trà Thái Nguyên ban mai sau một đêm vượt thắng chính mình: “Qua đêm phiền não tan rồi/ Ấm ly trà Thái Nguyên sớm ta ngồi với ta/ Hiên ngoài vài giọt sương sa/ Tan trên chồi biếc chan hòa nắng mai.”

Vâng, ở giao thời ngày đêm, trà Thái Nguyên trong thơ ca đã bảo hành cho một tương lai đẹp sau cái quá khứ tồi.

Trà Thái Nguyên trong thơ văn

Trà Thái Nguyên trong thơ văn

Không chỉ là thức uống, Trà Thái Nguyên trong thơ văn, trở thành nghi thức, được coi là đạo, là thi hứng của nhiều văn nhân, người nổi tiếng.

Trong cuộc sống, con người có nhiều nhu cầu về tinh thần, những thú chơi tiêu dao, thưởng thức. Nhưng cái mà qua đó người ta có thể nâng tầm lên thành nghi thức, mất nhiều giấy mực ngợi ca, cái mà để lòng người thăng hoa thành thi phẩm… thì đó là Trà.

Trà Thái Nguyên trong thơ văn

Trà Thái Nguyên trong thơ văn

 

Trà Thái Nguyên trong thơ văn Trung Hoa

Nhân gian biết cách tôn trọng và kính trà kể từ khi có Lục Vũ (728-804), Ông là một danh y thời nhà Đường với cuốn “Trà Kinh” nổi tiếng. Đó là một Bách khoa toàn thư về trà.

Sách của Phong Diễn có đoạn: “ núi Thái Sơn có tăng nhân truyền đạo Thiền. Học Thiền truớc tiên cần không ngủ ban đêm, vì vậy Thiền tông đều uống trà cho đỡ buồn ngủ, uống trà trở thành một nội dung rất quan trọng trong đời sống học Thiền”, sau này dân gian “bắt chước theo và trở thành phong tục”. Từ chốn thiền môn, trà đi vào cuộc sống và để lại cho đời những áng thơ bất hủ: Thơ trà Thái Nguyên.

Với thi nhân đâu cứ phải có: Trăng, hoa, tuyết, nguyệt mới đủ làm say đắm ? Tô Đông Pha, một nhà thơ nổi tiếng đời Tống, ông không những thích rượu mà còn rất yêu trà. Ông có tài vận trà vào thơ tạo nên sự phong phú cho văn hoá trà Thái Nguyên:

– “Tòng lai giai minh tựa giai nhân” (xưa nay trà ngon tựa người đẹp). – “Dục bả Tây hồ tủ Tây tử” (muốn sánh Tây hồ với Tây Thi) đã được người đời sau ghép thành câu đối treo tại Hàng Châu. Ví giai nhân với TRÀ như ông là bậc thẩm trà hiếm có trên đời. Rõ ràng, Trà Thái Nguyên trong thơ văn được ví với giai nhân quả là hình ảnh đẹp!

Hoàng đế Càn Long sống đến 88 tuổi, cũng là do uống nhiều trà. Khi 85 tuổi sắp thoái vị, lão trung y đến nói với nhà vua: – “Quốc bất khả nhất nhật vô quân”.( nước không thể một ngày không vua). Vị thiên tử phong lưu hay chữ này hóm hỉnh đối lại rất chỉnh: – “Quân bất khả nhất nhật vô trà” (Vua không thể một ngày thiếu trà) qua đó đủ biết ông vua này yêu trà sen Hồ Tây đến mức nào.

Tào Tuyết Cần, trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng có đến 260 chỗ đề cập đến trà. Người đời cho rằng:”bộ tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng” từng trang thấm đẫm hương trà. Không chỉ gửi gắm tình yêu trà trong bộ tiểu thuyết, họ Tào còn có thơ về trà:

Cô gái hầu trà xem đã thạo

Lấy ngay tuyết mới thử pha chơi.

(Tức cảnh đêm đông- Tào Tuyết Cần)

Bồ Tùng Linh, tác giả ”Liêu trai chí dị” quê Sơn Đông, nơi có con đường độc đạo từ phủ Tế Nam về Thanh Châu, khách bộ hành qua lại không dứt. Hàng ngày ông thường dùng nước suối Liễu Tuyền pha trà đãi khách, không đòi hỏi gì ở họ, chỉ yêu cầu khi dừng chân uống trà, đàm đạo thì kể cho nghe một vài câu chuyện yêu ma quỷ quái là được. Có lẽ vì thế mà người đời cho rằng Bồ Tùng Linh đã nấu trà Thái Nguyên thành một thứ nghệ thuật vi diệu!

Trà Thái Nguyên trong thơ văn Việt Nam

Ở Việt Nam , trà là thứ không thể thiếu từ xưa trong mỗi nếp nhà. Uống trà cùng bằng hữu bên mái hiên thì không gì sánh bằng, trà còn dùng trong việc ngoại giao, tế lễ, cúng tổ tiên, cúng Phật. Trà là hình ảnh quen thuộc không thể thiếu trong sinh hoạt, trở thành nếp sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ ngoài Bắc uống trà và ngâm mấy câu thơ:
Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà liên tử ngâm nôm Thúy Kiều

Trà là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà văn, nhà thơ. Trà đã góp cho truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm”của nhà văn Nguyễn Tuân một thành công lớn. Trà cũng là để cho thi nhân gửi ý, trao tâm: Tình ngàn năm vẫn thế Chỉ có oán hận sầu Trà ngàn năm vẫn thế Bát ngát mùi bể dâu.
Uống trà là cái thú thứ nhất đối với nhiều người:
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta” 

(Trần Tế Xương).
Thiên hạ ví hoa với mỹ nhân đã nhiều, ông Tú làng Vị Xuyên lại gián tiếp ví trà Thái Nguyên với mỹ nhân. Mỹ nhân hơn trà chỗ biết nói, trà hơn mỹ nhân ở chỗ biết toả hương, ngọt giọng, mềm môi, lắng đọng lòng người… thật khó mà phân định nặng nhẹ, nhưng giống nhau ở chỗ được nâng niu, trân trọng, cảm nhận và thưởng thức, rõ ràng Trà Thái Nguyên trong thơ văn đạt đến đỉnh cao.
…Nâng chén, mời anh thưởng vị trà,
Đừng quên tan tác mấy đời hoa.
Cạn từng hớp nhỏ cho sen đượm
Vớt lại trần ai một chút ta 

(Qua áng hương trà).
Uống chén trà trong sương sớm là cái thú của người dậy sớm, tận hưởng vẻ đẹp rực rỡ của một buổi bình minh. Uống trà cũng như uống rượu, ít khi người ta chịu uống một mình (độc ẩm). Mà dẫu có độc ẩm thì cũng tìm bạn nơi chính mình (là hai), với vầng trăng tình tứ nữa (là ba). Trong mỗi cuộc trà, tùy theo số người “đối ẩm” mà có tên gọi khác nhau: “Song ẩm” (hai người) “tam, tứ ẩm” hay“quần ẩm” (ba, bốn người…).
Thèm bấy lâu nay một ngụm trà
Ngóng người tri kỷ tận nơi xa
Hương trà xứ ấy lòng còn lắng
Dẫu có bao xuân vị chẳng nhoà
Mong chờ tri kỷ, ôi biền biệt
Dẫu tận phương xa dạ chẳng xa
Biết đến khi nào ôn vị cũ
Hương trà xưa đó có đôi ta

( Đăng Học)
Uống trà Thái Nguyên, người ta không ồn ào phô diễn như rượu, Người uống trà cùng ta phải là người hiểu ta. Dân gian có câu “trà ngon phải có bạn hiền”, có bạn tri kỷ bên chén trà mà thưởng thức mà ngẫm ngợi mà hiểu nhau ở đời đâu phải ai cũng có được”quen biết đầy thiên hạ, tri kỷ được mấy người” ví như tích cũ chuyện xưa của Bá Nha và Tử Kỳ vậy.
Các nhà Nho, dù có một cuộc sống đơn giản mấy đi chăng nữa, vẫn không thể thiếu trà trong cuộc sống thường nhật. Trà giúp cho cuộc sống tinh thần, làm lòng mình thêm lắng dịu, bù đắp giá trị tinh thần cho nếp sống thanh đạm:
Họ lịch sự như tiên, phú quý như trời
Quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu
Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất
Gọi hề đồng pha nước trước hiên mai 

… Lê Quý Ðôn quan niệm về nghệ thuật uống trà : “Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng..”. Có người cho rằng uống như vậy
thì hơi nhiều, nhưng chén trà của các cụ là chén mắt trâu, chén hạt mít. Uống trà là một thú vui tao nhã, ý nghĩa thật mênh mông, tâm hồn thăng hoa đến bất tận
Nhấp ngụm trà thơm khà một tiếng
Trăng vàng rớt xuống đáy ly nghiêng
Quỳnh hoa hương ngát đầy cõi mộng
Có phải ta vừa lạc chốn tiên … 

Trong nhịp sống đô thị hôm nay mấy ai uống trà cầu kỳ, nghiêm cẩn như pha trà bằng nước mưa, nước giếng mà Nguyễn Tuân đã miêu tả? Ai đi thuyền hứng nước lòng lá sen, ủ trà trong từng bông búp sen chưa nở? Ai mỗi sáng đun nước bằng than hoa, tiểu đồng hầu trà, chỉ vài ba chén mắt trâu thay cho bữa sáng? Tìm được một nơi thanh tịnh, bỏ lại phía sau bao ưu phiền, nhọc nhằn, toan tính để thưởng ngoạn chén trà cùng tâm tình “trà tam rượu tứ” kể không phải dễ… Có còn không một phòng thưởng thức trà mà khi bước qua cửa, ẩm khách “lội” qua dòng nước, “dẫm” qua hàng sỏi để gột rửa, giũ sạch bụi trần dư tạp để bước vào không gian trầm mặc của trà thất mà cứ ngỡ lạc vào “cửa thiền”, mà đôi khi, đó là chén Trà ướp sen Hồ Tây thơm ngon:
Nhẹ nâng một chén trà Thiền
Bình tâm nhìn khói ưu phiền thoảng bay
Cuộc đời – một giấc mộng say
Trăm năm nhìn lại… Mới hay… Vô thường !

(THIỀN TRÀ – Thiện Hùng)

Trà là tri âm, tri kỷ: Ta- hương trà- bóng trăng nữa là ba. Nhưng cũng có khi trà mang đến cho ta tình huynh đệ giữa những người cùng sở thích, âu đó cũng là một hạnh phúc
Cứ ngỡ trọn đời chỉ mình ta
Cô liêu quạnh bóng giữa hương trà
Đâu ngờ men đắng đưa người đến
Huynh đệ sum vầy một tiếng ca

Một mảnh nguyệt soi tình tri kỷ
Đôi câu thơ kết nghĩa một nhà
Non bồng tiên cảnh đâu màng tới
Chỉ nguyện kiếp này chẳng cách xa
(Tri âm trà )
Cũng có khi không cần phải tìm kiếm đâu xa những tri âm hay tri kỷ. Người hiểu ta, thương ta, lo lắng cho ta như là mẹ, bao dung như là chị, nũng nịu với ta như là em gái, người mà bình đẳng với ta trong mọi lo toan gánh nặng cuộc đời , hành trình trọn kiếp, người mà xa thì ta nhớ mong, gần thì ta hờn giận…đó là vợ ta vậy. Tác giả Tràm Cà Mau đã cho ta cảm nhận một buổi trà ban mai như vậy:
Cùng em nâng chén trà hương
Khi ngày mới chớm khói sương mịt mờ
Trăm năm thu ngắn một giờ
An vui hạnh phúc bên bờ thần tiên

Thơ ca về trà đã nhiều, thơ về trà cụ (dụng cụ pha trà) cũng không kém phần phong phú: ”nhất thuỷ nhì trà tam pha tứ ấm” Thái Bá Tân có những câu thơ thế này khi ông uống trà Tân Cương Thái Nguyên:
Để uống trà thơm bên gốc bách
Rửa chén hàng ngày trong suối tiên
.
Chỉ là một chén trà thôi mà biết bao triết lý nhân gian lắng đọng: Trà kinh- Trà luận- Trà đạo- Trà thiền… để rồi chúng ta lại có dịp thưởng thức những triết lý nhân gian, thi phẩm bất hủ qua mỗi chén trà.