Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap gặp khó

Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap gặp khó

Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap gặp khó vô cùng khi mà diện tích chè Vietgap Thái Nguyên hiện chỉ chiếm 3,3% tổng diện tích chè Thái Nguyên.

  1. Mới có 700ha chè Thái Nguyên Vietgap

Hiện nay, toàn tỉnh Thái Nguyên Mới có 700ha chè Thái Nguyên Vietgap, chiếm 3,3% tổng diện tích chè của tỉnh, với sản lượng chè búp tươi đạt khoảng 8.500 tấn. Làm gì để tiếp tục nhân rộng diện tích chè được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP vẫn là bài toán khó.

Tỉnh Thái Nguyên đã tích cực hướng dẫn người dân trong tỉnh sản xuất chè an toàn Thái Nguyên; xây dựng các mô hình sản xuất chế biến chè an toàn theo quy trình VietGAP.

Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap

Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap

Đến nay, diện tích chè sản xuất theo quy trình VietGAP chiếm khoảng trên 75% trong gần 18.680ha chè thái nguyên kinh doanh của tỉnh. Tuy vậy, diện tích chè được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP của tỉnh vẫn còn rất khiêm tốn. Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap gặp khó lắm í.

Nhiều hộ dân mạnh dạn đầu tư kinh phí để xin cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chè Thái Nguyên Vietgap. Bà con vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước bởi nhiều năm nay, tỉnh vẫn có chính sách hỗ trợ 100% kinh phí cho việc xin cấp giấy chứng nhận đạt VietGAP. Khi Giấy chứng nhận hết hiệu lực, nhiều hộ dân không mạnh dạn đầu tư kinh phí để tiếp tục xin cấp giấy chứng nhận.

  1. Sản xuất chè Thái Nguyên an toàn là xu thế

Chi phí cho chứng nhận Chè Thái Nguyên VietGAP khá lớn đối với những người làm chè. Một thức tế nữa là, ở nhiều vùng sản xuất chè trong tỉnh, giá bán sản phẩm chè ở các điểm đã được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP không cao hơn giá bán chè ở những điểm đang sản xuất theo quy trình VietGAP.

Không chỉ có vậy, ở nhiều nơi trong tỉnh, sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn VietGAP bán ra không cao hơn giá chè sản xuất theo phương thức truyền thống. Trong khi để được cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, người làm chè đã phải nỗ lực rất nhiều.

Thực tế cho thấy, hiện tại, người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến sản phẩm che thai nguyen an toàn; thị trường xuất khẩu ngày càng kiểm soát chặt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chè Thái Nguyên VietGAP chính là tấm giấy “thông hành” để đưa sản phẩm chè Thái Nguyên đến với trên thị trường. Do vậy, bà con cần mạnh dạn đầu tư kinh phí làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP.

Ngoài ra, Thái Nguyên nên tiếp tục đầu tư các dự án khuyến nông về sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Từ đó giúp cho sản phẩm chè an toàn Thái Nguyên có đầu ra ổn định, giá bán cao, tăng thu nhập cho người sản xuất.

Sau khi cấp, các đơn vị, tổ chức chứng nhận cần tiếp tục có sự kiểm tra, giám sát để người dân dùy trì nghiêm ngặt các quy trình sản xuất chè VietGAP. Đảm bảo sản phẩm làm ra đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế. Sản xuất chè Thái Nguyên Vietgap gặp khó sẽ ít đi.


Hợp tác xã chè thái nguyên tăng cường sản xuất

Hợp tác xã chè thái nguyên tăng cường sản xuất

Cùng với tích cực mong muốn có chè sạch Thái Nguyên sử dụng, Hợp tác xã chè thái nguyên tăng cường sản xuất các sản phẩm Trà Thái Nguyên ngon sạch.

  1. Hợp tác xã chè thái nguyên phát triển nhờ quỹ hỗ trợ

Gần 8 năm nay, Quỹ Hỗ trợ hợp tác xã tỉnh đã tiếp sức cho nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã vượt qua khó khăn, vươn lên hoạt động hiệu quả. Qua đó đã góp phần xây dựng nhiều mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã chè Thái Nguyên trên địa bàn tỉnh.

Từ số vốn điều lệ được cấp ban đầu là 5 tỷ đồng, đến nay nguồn Quỹ Hỗ trợ hợp tác xã (HTX) tỉnh đã tăng lên gần 28 tỷ đồng. Số vốn này đã được quay vòng cho 297 lượt khách hàng vay với lãi suất ưu đãi.

Thu hái chè của Hợp tác xã chè thái nguyên

Thu hái chè của Hợp tác xã chè thái nguyên

Đại diện Hợp tác xã chè thái nguyên chia sẻ, được vay vốn của Quỹ, chúng tôi đã có kinh phí để đầu tư vào kỹ thuật chăm sóc, chế biến chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhờ đó, HTX chè Thái Nguyên đã xây dựng và phát triển thành công thương hiệu chè Thái Nguyên ngon sạch.

  1. Sản phẩm chè Thái Nguyên từ hợp tác xã tiêu thụ tốt

Ngoài Hợp tác xã chè thái nguyên tăng cường sản xuất chè ngon, còn rất nhiều HTX trong tỉnh đã vượt qua khó khăn, hoạt động hiệu quả nhờ có sự tiếp sức từ nguồn Quỹ này. Có được kết quả đó là do những năm qua, Quỹ Hỗ trợ HTX đã thực hiện hỗ trợ vốn cho các hợp tác xã chè Thái Nguyên có vốn đầu tư máy móc làm chè.

Thực tế, Công ty Trà Minh Cường cũng đã tích cực hợp tác với các Hợp tác xã chè thái nguyên để có nguồn nguyên liệu an toàn. Đây là yếu tố quan trọng để có các sản phẩm Trà Thái Nguyên Minh Cường sạch cung cấp ra thị trường Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Hải Phòng.

Việc hỗ trợ vốn kịp thời như một “nguồn năng lượng” vừa giúp các HTX chè Thái Nguyên tăng cường nguồn lực đầu tư, mở rộng sản xuất các sản phẩm chè lai, chè sạch Thái Nguyên, chè hữu cơ Thái Nguyên. Đây là một hoạt động rất thiết thực, giúp hợp tác xã chè thái nguyên tăng cường sản xuất,  hồi sinh trong thời gian tới.


Chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất thế nào

Chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất thế nào

Cùng tìm hiểu Đặc sản chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất thế nào mà có được giá trị thương hiệu như vậy nhé.

Trước khi lý giải Đặc sản chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu vì sao chè Tân Cương Thái Nguyên được mệnh danh là đệ nhất danh trà nhé.

Cây chè Tân Cương ngoài thừa hưởng điền kiện đất đai, khí hậu trong lành của Thái Nguyên còn được chăm sóc kỹ lưỡng bởi những đôi bàn tay cần mẫn của người dân. Mấy chúc năm qua, người trồng chè xã Tân Cương Thái Nguyên đã mạnh dạn sản xuất chè theo mô hình VietGAP từ khâu chọn hạt giống đến tiêu thụ, bảo đảm sản phẩm là sạch, an toàn.

Những nghệ nhân chè Minh Cường không những sử dụng những kinh nghiệm tâm huyết lâu đời của mình trong từng khâu chế biến và sản xuất chè tân cương thái nguyên mà còn đem tình yêu nghề và niềm hạnh phúc của mình vào các khâu để cho ra đời thức uống thơm ngon và đã trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng đất Thái Nguyên oai hùng. Chè Minh Cường mang đến cho khách hàng những sản phẩm chè tân cương thái nguyên thơm ngon và có những sản phẩm chè thái nguyên giá rẻ nhất trên thị trường.

sản xuất chè tân cương Thái Nguyên Minh Cường

Sản xuất chè tân cương Thái Nguyên Minh Cường

Đặc sản chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất  thế nào

Chè Tân Cương Thái Nguyên được trồng trên đất Tân Cương, được bón phân ủ hoại mục và phân hữu cơ sinh học đã qua xử lý để bảo vệ độ màu mỡ của đất. Một năm, cây chè được bón phân từ 3 đến 9 lần, tùy thuộc vào điều kiện của người trồng. Khi chè đến tuổi hái, chè được hái bằng tay rồi rải đều và phơi hơi héo để chè tỏa hương và loại bỏ bớt nước. Kế đến, những công đoạn để chế biến chè Tân Cương Thái Nguyên bao gồm: sao tươi, quạt nguội, vò bằng máy, làm khô, đóng gói.

Tiếp đó, trà Tân Cương Thái Nguyên được hút chân không nhằm tránh phản ứng oxy hóa gây hỏng trà và tăng thời gian bảo quản. Thành phẩm trà Tân Cương hoàn thiện đựng trong hộp chứa đầy đủ thông tin về nguồn gốc xuất xứ, ngày sản xuất, hạn sử dụng, cách bảo quản. Như vậy, chúng ta vừa tìm hiểu Đặc sản chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất  thế nào?

Cùng xem video giới thiệu chè Tân Cương Thái Nguyên được sản xuất thế nào nhé:

 


Thuốc bảo vệ thực vật cho chè Thái Nguyên

Để sản xuất chè Thái Nguyên vừa có chất lượng cao, giá trị tăng và vừa đảm bảo an toàn thì việc sử dụng Thuốc bảo vệ thực vật cho chè Thái Nguyên cũng cần đúng cách.

  1. Sử dụng Thuốc bảo vệ thực vật cho chè Thái Nguyên

Hiện cả nước có khoảng 150.000 ha chè xanh, với các vùng trồng chè nổi tiếng như chè Thái Nguyên, chè Lâm Đồng… thế nhưng, diện tích chè được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP an toàn chưa đạt 10%. Đa phần nông dân tham gia chưa nhiều, chưa sâu vào sản xuất chè Thái Nguyên theo tiêu chuẩn VietGAP bởi suy nghĩ quy trình này phức tạp. Địa phương còn chưa quan tâm sát sao với quy trình sản xuất chè của nông dân, đồng hành cùng họ trong các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Nếu không sản xuất theo tiêu chuẩn Việt GAP thì chắc chắn việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho chè Thái Nguyên không bảo đảm theo đúng các khuyến cáo, bởi người dân chúng ta thường sử dụng tùy hứng, ít tuân thủ các khuyến cáo.

nông dân trồng chè Thái Nguyên

Theo ông Trần Văn Thắng, chủ một cơ sở sản xuất chè ở Thái Nguyên, đơn vị gia công sản phẩm cho chè Minh Cường, hiện tổ hợp tác do ông làm chủ nhiệm thì các hộ trong tổ đã sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, cung cấp cho thị trường khoảng 10 tấn chè thành phẩm/năm. Các sản phẩm chè của gia đình luôn đảm bảo chất lượng  ngon, sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm. Với quy trình VietGAP, quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng hướng dẫn, bao gồm bệnh gì, sâu gì thì dùng các loại thuốc nào, chế phẩm sinh học nào, liều lượng dùng cho cây chè ra sao, thời gian cách ly như thế nào, bảo đảm an toàn sức khỏe.

Tuy nhiên, không phải người trồng chè nào cũng biết tác dụng 2 mặt của thuốc bảo vệ thực vật cho cây chè Thái Nguyên để có thể sử dụng thuốc theo 4 đúng, là đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều dùng, đúng thời gian cách ly. Có một thực trạng phổ biến là bà con đến các cửa hàng bán thuốc, chủ cửa hàng tư vấn và bán thuốc nào thì bà con biết thuốc đó, rồi trộn hỗn hợp không theo tiêu chuẩn dẫn đến khi sử dụng cho cây chè đã phát sinh một số bệnh rất khó chữa. Không những thế, trên thị trường còn xuất hiện nhiều loại thuốc dùng cho cây chè Thái Nguyên trôi nổi, không rõ nguồn gốc.

  1. Thuốc bảo vệ thực vật nào tốt cho cây chè Thái Nguyên

Thực tế, tình trạng ung thư ngày càng cao hiện nay đánh thức suy nghĩ của rất nhiều người làm nhà nông, trong đó có người trồng chè. Người trồng chè hiểu rằng, sản xuất chè an toàn chính là bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất chè Tân Cương Thái Nguyên cũng như người tiêu dùng. Do đó, người trồng chè đang rất quan tâm việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nào tốt cho cây chè Thái Nguyên. Tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiện còn rất cao, mặc dù bà con cũng hiểu rằng, dùng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp bất đắc dĩ, bởi có thể tránh được dư lượng thành phần thuốc ít đi bao nhiêu thì sẽ tốt cho người tiêu dùng bấy nhiêu.

Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chè nhằm tạo ra giá trị thu nhập và giá trị gia tăng sản phẩm. Và để đạt được những mục tiêu này, thì việc tránh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần phải được quan tâm. Rõ ràng, bà con trồng chè đang gửi đến quản lý nhà nước về nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật cao hỏi Thuốc bảo vệ thực vật nào tốt cho cây chè Thái Nguyên để bà con có thể vừa sử dụng bảo đảm cho chè phát triển có năng suất mà vẫn không gián tiếp gây ra tật bệnh, ung thư cho người tiêu dùng với các sản phẩm chè bẩn, chè không an toàn.


Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng

Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng

Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng có địa chỉ tại bản Cúc Lùng ở xã Phú Đô, huyện Phú Lương, Thái Nguyên ngút ngàn màu chè xanh hi vọng.

cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ ở Phú Lương

cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ ở Phú Lương

1. Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng trồng giống TRI777

  1. Đến với đất chè Thái Nguyên, bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên với Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng trồng giống TRI777 ngút mắt. Diện tích của cánh đồng chè không phải 1 vài ha mà hơn chục ha lận. Chỉ ngút mắt một màu chè xanh. Trông như biển trà ấy. Đặc biệt, Cánh đồng chè Thái Nguyên này lại nằm bên bờ sông Cầu. Đất đai khu vực ven sông Cầu có nhiều phù sa là điều kiện tốt để cây chè phát triển mạnh. Thổ nhưỡng, chất đất và nguồn nước mát nơi đây đặc biệt thích hợp cho giống chè TRI777 phát triển trội hơn hẳn, chất lượng ngon hơn, bà con bảo nhau, đây là cây chè đổi đời và chỉ trồng riêng một loại chè này. Đến nay, gần 13ha đất ven sông Cầu đã được phủ một mầu xanh non của cánh đồng chè với duy nhất một giống chè cành TRI777.
  2. Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng mà chỉ trồng 1 giống chè này đã cho thấy phần nào sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người trồng chè Thái Nguyên. Quy mô lớn, 1 giống, nó đã khác hẳn cách trồng chè Thái manh mún trước đây. Theo nhiều hộ dân ở Bản Cúc, giống chè Thái Nguyên TRI777 cho búp chè to, mềm, đều, tỷ lệ búp trên cây chè nhiều là ưu điểm nổi bật của giống chè TRI777 khi trồng trên đất ven sông. Nếu so với nhiều giống chè cành khác trồng trên đất này thì TRI777 có nhiều ưu điểm vượt trội hơn cả về năng suất lẫn chất lượng.
  3. Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng không phải của một cường hào, địa chỉ nào cả, mà của hơn 70 hộ dân bản Cúc, hộ ít có đôi ba sào, hộ nhiều trên dưới một mẫu. Chưa kể, cánh đồng chè xanh mướt mát này còn được nới rộng hơn nữa bởi một số diện tích đất hoang cũng đang được các hộ dân phát dọn để tận dụng, tiếp tục trồng chè.

2. Ngưỡng mộ cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng

  1. Rất nhiều người thích thú, ngưỡng mộ và cảm thấy tuyệt vời trước Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng, điều này tiếp tục góp phần củng cố vựa chè của Thái Nguyên. Giá bán cũng cao hơn các loại chè khác ấy. Cơ quan chuyên môn ngành nông nghiệp cũng đang tích cực hướng dẫn để bà con áp dụng quy trình SX chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, nhằm từng bước nâng cao giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên.
  2. Gia đình chị chị Ly có 3 sào chè ở ven sông Cầu. Chị cho biết, cả cánh đồng có một giống chè thì việc phòng trừ sâu bệnh sẽ dễ dàng hơn. Bởi lẽ, chè cùng một loại giống thì các loại sâu bệnh xuất hiện như nhau và theo khung thời gian nhất định. Chẳng hạn, mùa hè trên cây chè TRI777 thường xuất hiện các loại sâu bệnh như rệp, bọ trĩ, nhện đỏ, rầy xanh. Để phòng trừ hiệu quả các loại sâu bệnh trên, bà con chỉ cần đồng loạt tiến hành phun thuốc, hiệu quả phòng trừ sâu bệnh cho cây chè Thái Nguyên tốt hơn trông thấy. Khi chuyển sang trồng một giống chè, bà con ở đây lại tiết kiệm được công lao động trong việc chăm sóc cây chè, nhất là việc phòng trừ sâu bệnh hại chè; có thể đưa máy móc vào SX như sử dụng máy hái chè, tưới chè bằng hệ thống van xoay tưới chè.
  3. Sở dĩ Cánh đồng chè Thái Nguyên chục tỷ đồng bởi bên cạnh thu hoạch chè, nương chè này còn góp phần vào phát triển khu du lịch sinh thái, thu hút khách thập phương tới tham quan, đặc biệt là giới trẻ đi phượt, chụp ảnh cưới, những đôi uyên ương lên hít thở không khí trong lành.

Lấy hương trà Thái Nguyên

Lấy hương trà Thái Nguyên

Lấy hương trà Thái Nguyên hay còn gọi là đánh mốc chè Thái Nguyên là công đoạn của chế biến chè, chứ không phải là xử lý chè mốc thành chè thường như một số người hiểu lầm.

1. Công đoạn Lấy hương trà Thái Nguyên

Lấy hương trà Thái Nguyên hay còn gọi là đánh mốc chè là công đoạn cuối cùng của quá trình chế biến chè Thái Nguyên; công đoạn này quyết định nhiều đến chất lượng, màu sắc, hương vị của trà thái nguyên thành phẩm. Công đoạn lấy hương trà Thái Nguyên được tiến hành sau khi chè đã được sơ chế thành chè mộc. Chè mộc Thái Nguyên bao gồm cả chè búp, chè cám, chè bồm và cậng (cọng) chè. Để tạo chè thành phẩm, người thu mua phải phân loại, sàng sảy chè mộc.

Lấy hương trà Thái Nguyên là công đoạn quan trọng của quá trình sao chè.

Lấy hương trà Thái Nguyên là công đoạn quan trọng của quá trình sao chè.

Công đoạn Lấy hương trà Thái Nguyên là quá trình sao tăng nhiệt. Chè mộc màu đen nhưng lấy hương xong sẽ bóng, nhẵn và cho ra màu xám tro, có một lớp phấn, tuyết thoáng nhẹ trên mặt chè. Chính vì vậy mới nảy sinh cách gọi khác là đánh mốc. Như đã nói, cách nói như trên đã gây ra sự nhầm tưởng là chè bị mốc nên phải dùng hóa chất hay nguyên liệu khác để tẩy mốc. Lấy hương trà giúp chè đẹp bóng, thơm đều, chín đều.

Tuy nhiên, bản thân không ít người làm chè lại có cách gọi khác của lấy hương là đánh mốc. Cách nói như vậy đã gây ra sự hiểu nhầm tai hại, rằng chè bị mốc nên phải khử mốc, tẩy mốc. Thậm chí, dư luận còn đặt vấn đề về việc phải dùng cả những hóa chất, nguyên liệu khác để thực hiện đánh mốc. Việc dư luận vừa qua có nêu vấn đề về việc sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất, không dấu giếm, bà này cho rằng, cũng có dư luận cho rằng, có người thu mua chè ban, ôi, phẩm cấp thấp, với giá rẻ để bán cho những vùng lõm dùng chè nên đã sử dụng lá dứa thơm để cho vào khi lấy hương.

2. Hiểu sai Lấy hương trà Thái Nguyên

Nhiều làm chè Thái Nguyên thời gian qua tỏ ra vô cùng bức xúc khi một số người, vì thiếu hiểu biết, không xác minh kỹ lưỡng mà dư luận đã đặt ra một vấn đề làm tổn hại trực tiếp đến người làm chè, họ lên báo chí, các diễn đàn mạng, facebook nói rằng người làm chè thái nguyên đánh mốc nhằm chế biến chè Thái Nguyên bẩn thành chè sạch. Điều này rất nguy hại đến danh tiếng chè Thái Nguyên, uy tín sản phẩm trà Thái Nguyên chất lượng cao.

Một nghệ nhân làm chè có tiếng ở Thái Nguyên cho biết, sao khô chè thì sao làm nhiều mẻ nên chè chưa đồng đều. Lấy hương là cho chè thành phẩm vào máy quay xoa lại chè, làm cho chè bóng đẹp đều. Công đoạn này rất quan trọng như tôi con dao vậy. Không được quá lửa, không được thiếu nhiệt mà chỉ được phép vừa đủ. Xúc động ông nói, lần đầu tiên, tôi xin tiết lộ bí quyết nghề là khi lấy hương thì cho tay vào lò, bằng cảm giác trực quan nếu thấy cánh chè tuột trên tay thì tăng nhiệt, khi cánh chè rơi xuống tay nóng rát, đồng thời có mùi hương thơm ngát tỏa ra. Đã là chè Thái Nguyên ngon thì dứt khoát không được cho bất kỳ một thứ gì vào. Bởi dù có tẩm ướp bất cứ hương hoa gì thì cũng làm mất đi hương vị tinh túy đặc trưng của chè Thái Nguyên đặc biệt.

Thông tin sai lệch, hiểu nhầm về việc lấy hương là tẩy mốc hoặc cho hóa chất vào sản xuất chè đã làm cho cả thị trấn rúng động bất ngờ. Người làm chè phẫn nộ, lãnh đạo thị trấn đau đáu, trăn trở muốn tổ chức ngay một cuộc hội thảo với tâm nguyện là để giải thích cho dư luận hiểu rõ về quy trình sản xuất chè. Mong rằng tới đây, các cơ quan thông tin đại chúng cần tìm hiểu kỹ trước khi thông tin về quy trình sản xuất chế biến chè, bởi việc này liên quan đến nguồn sống của hàng vạn hộ trực tiếp sản xuất và hàng triệu người tiêu dùng trong và ngoài nước. Rõ ràng, thông tin Lấy hương trà thái nguyên cần phải được hiểu rõ ngọn ngành là như vậy.


Chè Thái Nguyên 2016

Chè Thái Nguyên 2016

Theo kế hoạch phát triển chè Thái Nguyên 2016 sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển bền vững, nâng cao diện tích trồng chè sạch để có các sản phẩm chè Thái Nguyên an toàn.

Phát triển chè Thái Nguyên 2016

Đầu năm nay, diện tích chè Thái Nguyên ướctrên 21 nghìn ha, trong đó chè giống mới đạt hơn 13 nghìn ha; sản lượng đạt gần 195 nghìn tấn, với sản lượng chè chế biến là hơn 41 nghìn tấn; sản lượng chè Thái Nguyên xuất khẩu chiếm 20%, trong đó đa phần là chè phẩm cấp thấp. Nhờ có thương hiệu Chè Thái Nguyên, nên các sản phẩm chè chủ yếu nội tiêu với giá cao hơn giá xuất khẩu từ 2-3 lần. Đây cũng là tiền đề để phát triển chè Thái Nguyên 2016 theo hướng mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng.

Chè Thái Nguyên 2016 đã có 775 tổ chức, cá nhân được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên”. Trên địa bàn tỉnh có 12 công ty, 6 HTX đã xây dựng thương hiệu riêng cho các sản phẩm chè của đơn vị như chè Minh Cường. Nhìn chung, mặc dù có nhiều cố gắng, song quá trình sản xuất, sơ chế chè Tân Cương Thái Nguyên chủ yếu theo phương pháp thủ công truyền. Mô hình vùng sản xuất chè Thái Nguyên ứng dụng công nghệ cao của tỉnh còn ít và chưa thành công; sản phẩm chè được chế biến công nghiệp chủ yếu là nguyên liệu thô có chất lượng và giá trị kinh tế thấp.

Đáng chú ý, do trình độ nhận thức của người dân vùng chè Thái Nguyên chưa đồng đều và còn sơ khai nên giá trị sản phẩm thu được giữa các vùng chè chưa ổn định và chênh lệch khá cao. Do đó, chất lượng, giá trị sản phẩm chè Thái Nguyên giữa các vùng trồng chè không đồng đều. bà con chưa mạnh dạn ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất chè. Bởi vậy, năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm chè ở một số vùng đạt thấp, giá bán mỗi kg chè chỉ bằng 30-50% so với các xóm trà, làng trà phát triển có thương hiệu hơn.

chè thái nguyên 2016

Chè thái nguyên 2016

Chè Thái Nguyên 2016 nhiều sản phẩm

Theo nhiều chuyên gia, Chè Thái Nguyên 2016 nhiều sản phẩm mới, sản phẩm có chất lượng. Trong đó, cái gốc phải là nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và phát triển bền vững các sản phẩm trà Nhất Phẩm. Tỉnh phấn đấu đến năm 2020 diện tích chè giống mới chiếm 80% diện tích chè toàn tỉnh, tăng gần 20% so với hiện nay. Ngoài ra, tỉnh sẽ đẩy mạnh việc hỗ trợ sản xuất chè và chứng nhận an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc GAP khác.

Theo kế hoạch, chè Thái Nguyên 2016 sẽ mở rộng diện tích, phấn đấu nâng diện tích chè Thái Nguyên đạt 23 nghìn ha; năng suất chè búp tươi đạt 115 tạ/ha; sản lượng đạt 240 nghìn tấn vào năm 2020. Một trong những giải pháp mang tính đột phá trong phát triển cây chè là tỉnh ta sẽ tăng nhanh diện tích sản xuất chè an toàn. Theo đó,  mục  tiêu đề ra là đến năm 2020, toàn tỉnh sẽ có trên 16,8 nghìn ha thuộc vùng sản xuất chè an toàn, tập trung đủ điều kiện chứng nhận “Cơ sở đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm”.

 Giai đoạn 2016-2020, dự kiến Thái Nguyên sẽ xây dựng 7 mô hình vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sản xuất chè Thái Nguyên tại các địa phương là vùng chè trọng điểm của tỉnh như Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa, Đồng Hỷ, T.X Phổ Yên, Tân Cương Thái Nguyên…


Người làm chè Thái Nguyên

Người làm chè Thái Nguyên

Câu chuyện người làm chè Thái Nguyên là một người phụ nữ, đắm đuối vì sự phát triển của cây chè, của các sản phẩm trà bảo đảm chất lượng.

1. Câu chuyện người làm chè Thái Nguyên

Khi Festival Trà Thái Nguyên lần thứ 3 đang đến gần, chúng tôi có dịp cùng Chủ tịch Hiệp hội chè Thái Nguyên, chị Ngà về vùng chè Tân Cương Thái Nguyên để cảm nhận không khí chuẩn bị cho sự kiện quan trọng của bà con nơi đây. Nhớ lại câu chuyện người làm chè Thái Nguyên, người phụ nữ tiêu biểu ấy từ hồi ngồi trên ghế giảng đường đại học, chị say mê tìm hướng phát triển cho cây chè trên đất Thái Nguyên. Chị đã cùng bạn bè chăm chỉ tìm hiểu, đọc tài liệu hướng dẫn cách làm chè từ ngày xưa, cũng như sách vở khoa, từ đó định hình ra cách làm chè tốt nhất về bày cho ba mẹ, xóm giềng bà con làm theo, bỏ những cách làm không hay đi.

Chị Ngà, người làm chè Thái Nguyên cũng đã chỉ rõ những thách thức đối với cây chè Thái Nguyên hiện nay. Theo chị, lĩnh vực xuất khẩu chè còn gặp nhiều nhiều khó khăn do đa số các doanh nghiệp chế biến chè chưa có vùng nguyên liệu nên còn bị động trong sản xuất, chế biến,chưa thiết lập được nguồn nguyên liệu chè tươi ổn định. Đối với một số thị trường khó tính như EU, Mỹ, hầu hết các doanh nghiệp không xâm nhập được hoặc xuất khẩu không đáng kể. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước chưa thực sự gắn bó, nên chưa có sự hỗ trợ nhau về thông tin thị trường.

người làm chè thái nguyên

2. Người làm chè Thái Nguyên hiến kế

Chị Ngà, tập hợp ý kiến của những Người làm chè Thái Nguyên hiến kế cho chính quyền nhiều giải pháp thiết thân. Chẳng hạn như cần xây dựng thương hiệu và hệ thống quản lý từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ chè. Cùng với nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ từ năm 2006, cần thực hiện thủ tục để Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể đối với các sản phẩm chè của các vùng chè trên địa bàn tỉnh như “Chè La Bằng”, “Chè Trại Cài”, “Chè Vô Tranh” , “Chè Phổ Yên” và Chỉ dẫn địa lý chè Tân Cương.

Ngoài ra, những Người làm chè Thái Nguyên cho rằng, chính quyền cần nâng cao nhận thức của người sản xuất chè theo tiêu chuẩn an toàn. Do vậy, nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chế biến chè được chị giới thiệu tới bà con trong tỉnh. Trong đó, nên tập trung ở các vùng chè đặc sản và phải có biện pháp quản lý chặt chẽ từ tỉnh đến cơ sở để quản lý từ khâu quy hoạch vùng sản xuất, khâu sản xuất, cung ứng giống, vật tư nông nghiệp đến khâu canh tác, thu hái, bảo quản, chế biến chè đảm bảo theo VietGAP, UTZ. Không nên duy trì hình thức hộ nông dân tự sản xuất – chế biến – tiêu thụ mà phải có liên kết tạo sản lượng lớn gắn với nhu cầu của thị trường… Nhân dịp Festival Trà sắp tới các đơn vị sản xuất, chế biến chè phải chuẩn bị sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, có bao bì, nhãn mác, địa chỉ… góp phần quảng bá thương hiệu che thai nguyen ngày càng bay cao, bay xa tới thị trường quốc tế.


Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên

Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên

1. Thời gian qua, mô hình Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên đã được hình thành tại nhiều vùng sản xuất chè nguyên liệu của tỉnh Thái Nguyên, tạo liên kết bền vững cho người làm chè.

Manh mún, nhỏ lẻ và không thể áp dụng khoa học kỹ thuật để bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm các sản phẩm chè Thái Nguyên đã được nhiều người nói tới. Để khắc phục tình trạng này, mô hình Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên ra đời đã góp phần từng bước xóa bỏ tư duy mạnh ai nấy làm. Nhiều hộ nông dân làm chè đã hợp lại với nhau, cùng giúp nhau về vốn, kiến thức, ngày công… để sản xuất và chế biến chè an toàn. Với sự liên kết này, kiểu như ba cây chụm lại, tạo sự đoàn kết cao. Trong sản xuất chè Thái Nguyên, sự liên kết bảo đảm cho việc thu hái chè thủ công được thực hiện đúng lứa chè, tránh bị chè quá lứa nếu như ít người hái. Do đó, sản phẩm Trà Thái Nguyên không bị giảm chất lượng.

tổ sản xuất chè

2. Tham gia Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên, các hộ cá thể cùng nhau góp tiền của mua sắm các thiết bị ngành chè về, bảo đảm chế biến sản phẩm trà Tân Cương Thái Nguyên hợp vệ sinh tại khu tập trung.

Họ cùng nhau cam kết và đăng ký diện tích sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Nhờ đó, cũng dễ dàng xin chứng nhận bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho các sản phẩm trà Thái Nguyên sau chế biến. Chưa kể, khi đã có hội nhóm, mỗi người đều chia sẻ kinh nghiệm làm trà của mình, qua đó, nhiều kiến thức để chăm sóc diện tích chè được gợi mở, nhiều giống chè mới được bảo nhau đưa vào trồng như TRI777, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên. Tổ đội hợp tác này còn truyền cho nhau tinh thần sản xuất chè sạch, chè an toàn, giữ gìn môi trường sống cho chính những người làm chè, môi trường bền vững của quê hương.

Có nhiều lợi ích khi tham gia Tổ hợp tác sản xuất chè Thái Nguyên. Đó có thể là được hỗ trợ cành chè giống, thuốc ủ phâm vi sinh, lập xưởng sao chè tập trung… Đặc biệt là, thông qua các lớp tập huấn cách chăm sóc và chế biến chè, cách ươm chè giống có chất lượng. Hoạt động chế biến chè cũng chuyên nghiệp hơn. Rồi người làm chè cùng nhau trao đổi về tình hình sâu bệnh trên cây chè, đánh giá chất lượng chè khô của từng gia đình, lựa chọn những sản phẩm trà Thái Nguyên có chất lượng để cùng sẻ chia kinh nghiệm làm trà, cũng như quy trình để sản xuất trà sạch.