Độc đáo trà Việt

Độc đáo trà Việt

Xin giới thiệu bài viết của nhà văn Hoàng Quốc Hải có tiêu đề Độc đáo trà Việt khi ông có dịp lên đất chè Thái Nguyên trao đổi về văn hóa trà.

  • Để xem nét độc đáo trà Việt, trước hết tìm hiểu nguồn gốc cây trà. Cây trà có từ bao giờ? Và quê hương đầu tiên của nó ở đâu hiện chưa có câu trả lời chính xác. Có thể Việt Nam, cụ thể là miền Bắc Việt Nam là một trong những vùng đất mà cây trà sinh trưởng vào loại sớm. Nhưng sớm nhất thì chưa thể khẳng định được. Việc đó phải nhờ vào các nhà khoa học về thực vật và các nhà trà học minh định. Nhưng có điều chắc chắn là các giống trà và họ trà đều di thực dần từ phía Nam lên phía Bắc. Khoảng đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, một Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô cùng một số nhà thực vật học đã qua Việt Nam nghiên cứu về cây trà. Đoàn đã đi nhiều nơi từ Nghệ An đến Lạng Sơn cùng các tỉnh Thái Nguyên, Nghĩa Lộ, Phú Thọ, Hà Giang…

Trà Việt

  • Bằng vào cách phân tích chất cathein trong các giống trà tại các vùng đất mà nhóm nghiên cứu khoa học đã khảo sát, đặc biệt là các kết quả thu được từ những giống trà cổ Việt Nam, việc tổng hợp các chất cathein đơn giản nhiều hơn các giống trà tại các vùng khác. Từ đó đi đến kết luận về sự tiến hóa của cây trà như sau: Việt Nam – Vân Nam (Trung Hoa) – Assam (Ấn Độ)…Tất nhiên, đây mới chỉ là một đề tài còn khiêm tốn. Bởi vùng khảo sát chưa rộng, mức độ thâm nhập khoa học chưa sâu. Song như vậy cũng đủ xác định về nguồn gốc cây trà của vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa.
  • Độc đáo trà Việt rất bất ngờ về nguồn gốc cây trà. Số là gần đây có một chuyên gia về trà đạo Nhật Bản, ông Hideo Onishi khi qua thăm các vùng trà Việt Nam như vùng chè Tân Cương Thái Nguyên, Phú Thọ, Mộc Châu…đặc biệt là vùng trà Suối Giàng, tiếp xúc với cả một rừng trà với những cây trà đại thụ, vòng thân tới mấy người ôm ở độ cao từ 1500m đến 1800m so với mặt nước biển. Cây trà ở đây sinh trưởng tự nhiên trong môi trường thuần khiết, không hề có tác động về bất kể phương tiện gì của con người.
  • Ông người Nhật này mê mẩn bởi Suối Giàng sản ra được loại trà siêu sạch đúng nghĩa. Búp trà phơi khô tự nhiên hoặc sao sấy đều có mầu trắng nhờ nhờ như một lớp tuyết phủ nhẹ. Nước trà này khi pha hãm có màu xanh ngả vàng, hương thơm, vị đậm. Kết thúc cuộc thăm viếng các vùng trà Việt Nam, ông Hideo Onishi phát biểu: “Tôi tin rằng các giống trà của  Trung Quốc đều có nguồn gốc từ Việt Nam”. Và ông hứa: “Phần còn lại của đời tôi, tôi sẽ dành cho cây trà Việt Nam”.
  • Sách Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn trích dẫn như sau: Về xuất xứ của cây trà, Lục Vũ viết: “Trà là loại cây tốt ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử, hoa như hoa bạch tường vi, trái như trái cây bạnh lư, nhụy như nhụy hoa đinh hương, mùi vị rất hàn…  Ở Giao Chỉ và Quảng Châu người ta rất quý thứ này, hễ có khách tới nhà, thì trước hết lấy thứ này (trà) ra (pha) đãi khách”. Và Nghiên Bắc tạp chí chép: Lý Trọng Tôn học sĩ nói: “Trà ở Giao Chỉ như rêu xanh, vị cay gắt gọi là đăng”. Chỉ riêng việc Lục Vũ mô tả về cây trà, đủ biết nó rất xa lạ với người Trung Hoa thời trung đại.
  • Cũng trong Vân Đài loại ngữ, quyển IX phần “Phẩm vật”, nhà bác học Lê Quý Đôn viết về sự độc đáo trà Việt như sau: “Những núi Am thiền, Am giới, Am các ở huyện Ngọc Sơn tỉnh Thanh Hóa đều sản xuất thứ trà đăng này. Cây trà mọc liên tiếp khắp rừng, người bản thổ hái lá, làm cho nát ra, phơi khô trong bóng mát, nấu mà uống, tính nó hơi hàn, có thể làm cho mát tim phổi, giải khát và ngủ ngon. Hoa và nhụy càng tốt nữa, có mùi hương tự nhiên. Thôn ấy gọi là Vân Trai, giáp Bạng thượng, chuyên buôn bán thứ trà này, nhân đó tục gọi là Trà Bạng”. Trên đây Lê Quý Đôn nói đến trà rừng. Ngoài ra trong nông thôn miền Bắc Việt Nam, cụ thể là vùng đồng bằng sông Hồng còn trồng cây trà ở trong vườn để cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt gia đình, gọi là trà vườn.

Nét độc đáo trà Việt cổ xưa chủ yếu dựa vào việc khai thác từ trà rừng.

  • Nhưng từ non một thế kỷ nay, trà được trồng tại nhiều vùng trong cả nước. Ở miền Bắc nhiều nơi trồng trà, nhưng quy hoạch thành từng vùng để trở thành trà hàng hóa thì chỉ có các địa danh như Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Lâm Đồng. Diện tích trồng trà cả nước có khoảng trên 100.000 ha. Tổng sản lượng trà của cả nước khoảng gần 100.000 tấn; bốn phần năm trong số đó dành cho xuất khẩu, chưa đạt 100 triệu USD. Nghĩa là ta chỉ chào bán được giá trung bình hoặc thấp. Mặc dù trà nguyên liệu của ta chất lượng khá tốt. Nhưng khâu chế biến của ta còn yếu…
  • Theo chủ ý của riêng tôi, không có loại trà nào trên thế giới có thể so sánh được với trà Thái Nguyên. Nhưng phải là loại trà tại vùng chè Tân Cương Thái Nguyên. Trồng và thu hái theo tự nhiên, chỉ bón phân chuồng ủ mục chứ không phun thuốc trừ sâu, phân hóa học, thuốc kích thích để cho năng suất cao. Loại trà trồng theo kiểu truyền thống, chỉ ngắt một tôm hai lá và sao suốt bằng chảo đất để uống mộc, chứ không ướp tẩm một thứ hương hoa nào, thì ta có quyền thách thức bất cứ một loại trà hảo hạng nào trên cõi nhân gian này. Mới đây, sử dụng chè Tân Cương Long ẩm thấy đúng điệu quá !

Tìm hiểu nguồn gốc cây chè Thái Nguyên

Tìm hiểu nguồn gốc cây chè Thái Nguyên

Theo nhiều cứ liệu lịch sử và truyện kể, Tìm hiểu nguồn gốc cây chè Thái Nguyên được trồng trên đất Thái Nguyên từ rất lâu. Song, chè Thái Nguyên thực sự nổi danh cách đây chừng thế kỷ, gắn với tên ông Đội Năm.

1. Tìm hiểu nguồn gốc cây chè Thái Nguyên

Từ lâu lắm rồi, chẳng nhớ rõ nữa, cây chè xanh đã gắn bó với cuộc sống của người dân Việt. Bát nước chè xanh, cùng nhau tâm tình đã là hình ảnh của mọi gia đình Việt. Trà có mặt ở mọi sự kiện quan trọng từ ma chay, cưới xin, cho tới giỗ chạp. Mà trà ngon nhất thì chỉ có ở vùng Thái Nguyên. Các sử gia triều Trần cũng đã có ghi chép rằng đất Thái Nguyên là vùng trồng chè lâu đời, chè ngon dâng vua chúa. Như một lẽ tự nhiên, uống trà trở thành một nét văn hóa lâu đời của người dân Văn Lang ta (tương truyền ngày ấy các cụ đã thích uống chè Tân Cương Long ẩm thì phải)

nguon-goc-cay-che-tn

Nguồn gốc cây chè Tân Cương Thái Nguyên

Có thể thấy rằng, lịch sử phát triển của cây chè Thái Nguyên cũng gắn liền với lịch sử phát triển cây chè Việt. Thời kỳ phong kiến từ Lê Trịnh trở về trước, người Việt trồng chè theo hình thức cây chè vườn hộ gia đình vùng đồng bằng Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía Bắc. Một nhà nghiên cứu của Liên Xô đã nghiên cứu sự tiến hoá của cây chè bằng cánh phân tích chất cafein trong chè ở Việt Nam và thế giới. Ông này đã đưa ra đã đưa ra sơ đồ tiến hoá cây chè tuần tự theo địa lý là: Camelia- chè Việt Nam – chè Vân Nam lá to – chè Trung Quốc – chè Assam ấn Độ. Nhiều cứ liệu, tài liệu và thư tịch cũng khẳng định, Việt Nam là một trong những cái nôi của cây chè trên hành tinh xanh này.

2. Cây chè ngày nay phát triển xứng danh lịch sử

Những vùng chè ngon nổi tiếng của Thái Nguyên như Tân Cương (TP Thái Nguyên); Trại Cài, Minh Lập (Đồng Hỷ), La Bằng (Đồng Hỷ); Khe Cốc, Tức Tranh (Phú Lương) đều thống nhất lịch sử cây chè Thái phát triển rầm rộ cách đây ngót nghét một thế kỷ. Kể từ khi ông Đội Năm lấy giống từ Phú Thọ về trồng. Ngay khi khai phá, chè Tân Cương nhãn hiệu “Bạch Hạc” của Đội Năm đem dự hội chợ Đấu Xảo đã đánh bại chè Ấn Độ, Trung Quốc để giành chiến thắng. Từ đó, danh tiếng trà Tân Cương vang, xa, nền nẩy, xứng danh lịch sử đã tạo ra cây chè.

Chính chất đất, tình cảm con người và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng từng vùng đã làm nên bản sắc trà Tân Cương, trà Trại Cài, trà Đồng Hỷ, trà La Bằng, trà Điềm Mặc, trà Phúc Thuận… mỗi nơi một vẻ, tạo ra sự phong phú muôn vị độc đáo của trà Thái Nguyên. Chè ngon chính là do trên các lớp đất bề mặt của các địa phương trên Thái Nguyên có những vi khoáng rất quý hiếm. Tiếp đó, đã có loại phân với hàm lượng vi chất tương tự tự nhiên vùng Tân Cương được chế biến, để nâng cao giá trị cây chè.

Với một lịch sử đẹp, sự tích cây chè tân cương thái nguyên sẽ là bàn đạp và điểm tựa để cây chè Thái ngày càng phát triển cùng đời sống người dân quê hương Thái Nguyên nửa núi nửa đồng. Bạn có thể tìm hiểu nguồn gốc cây chè thái nguyên tại đây: http://chetrathainguyen.com/tim-hieu-nguon-goc-cay-che-thai-nguyen/ .


Sự tích cây chè Tân Cương Thái Nguyên

Sự tích cây chè Tân Cương Thái Nguyên

Đến với miền đất chè Tân Cương, Thái Nguyên, bên cạnh thưởng thức những ấm trà xanh nước, đậm đà hương vị, quý khách còn có thể nghe những sự tích cây chè Tân Cương Thái Nguyên

1. Sự tích cây chè Tân Cương Thái Nguyên nghe người già kể chuyện cổ tích cây trà

  • Từ bao đời này, giới sành trà, trà nô đã tôn xưng chè Tân Cương Thái Nguyên là đệ nhất danh trà, là loại trà ngon nhất của dải đất hình chữ S đầy yêu thương này. Và để lý giải hương vị chát đến tận cùng, ngọt sâu cuống họng cực kỳ đặc biệt của trà Tân Cương, các cụ cũng đã có cách lý giải hết sức trữ tình, mang đậm yếu tố huyền linh cổ tích.
Sự tích chè Tân Cương Thái Nguyên

Sự tích chè Tân Cương Thái Nguyên

 

  • Nhẩn nha bên đồi trà Nhất Phẩm tại xóm Hồng Thái, chúng tôi được các cụ cao niên kể lại rằng. Ngày xửa ngày xưa, có đôi trai gái yêu nhau tha thiết, thủy chung. Tuy nhiên, do ở hai đẳng cấp khác nhau nên họ bị ngăn trở. Cô gái là con một quan lang quyền quý, sống trong nhung lụa, trong khi chàng trai mồ côi nghèo ngày ngày vào rừng đốn củi, xuống dòng sông bắt cá kiếm ăn qua ngày.
  • Tình yêu bị ngăn cấm là sự trớ trêu muôn đời muôn kiếp. Và nó làm hai con người đang yêu nhau đã vì nhau mà héo hon, úa tàn, quên ăn quên ngủ. Sau nhiều lần quyết tâm bỏ trốn cùng nhau bất thành, cô gái bị cha mẹ nhốt trong lầu son gác tía. Chàng trai nghèo ngày ngày thổi tháo, tiếng sáo héo hon đến tuyệt vọng và chết. Tình yêu của đôi trai gái làm trời đất phải sót thương. Đức Phật từ bi đã sai Bồ Tát hóa chàng trai thành ngọn núi Cốc sừng sững giữa trời, cây lá sum suê để minh chứng tình yêu của chàng với cô gái.
vuon-che

Đồi chè Thái Nguyên trở thành mảnh đất lành cho tình yêu

2. Nước mắt tình yêu tạo nên vị chát ngọt của trà

  • Về phần nàng Công, nàng cũng héo hon, thương nhớ người yêu mà bỏ ăn bỏ uống, từ từ chết đi giữa lầu son kín cửa, nước mắt hóa thành sông. Bồ Tát hiển linh, cho những dòng nước mắt nàng thành dòng sông, chảy ôm quanh ngọn núi Cốc, đoàn tụ tình yêu, để chàng Công và nàng Cốc đời đời bên nhau, muôn kiếp không rời ra.
  • Tương truyền, khi những dòng suối chảy đến chân núi Cốc, lập tức cây cối xanh tươi, trong đó có một loại cây, sau này gọi là cây chè, cứ xanh mướt mát. Và bởi chính nước mắt nàng công thấm vào rễ cây chè nên tạo ra vị vừa chát, vừa ngọt sâu lưu luyến mãi nơi cổ họng, để người đời sau nhấp một ngụm chè rồi nhớ mãi khôn nguôi.
  • Cây chè được sinh ra và mang vác trong mình tình yêu cao cả, bất diệt của đôi trai gái. Đó chính là thứ chè Tân Cương Thái Nguyên, uống một lần để nhớ suốt đời. Sự tích cây chè tân cương thái nguyên thật lý thú và ý nghĩa.