Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu giảm

Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu giảm

Nhìn chung, giá chè Việt Nam, bao gồm Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu giảm do các sản phẩm trà ngon chủ yếu tiêu thụ thị trường trong nước. Giá bán ra ngoài toàn chè đểu.

  1. Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu giảm dịu nhẹ

Theo báo cáo, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam 8 tháng đầu năm tăng 12% về lượng và 11,8% về giá trị. Thực ra, chè Thái Nguyên xuất khẩu không nhiều. Khối lượng xuất khẩu chè tháng 8 năm 2017 ước đạt 13 nghìn tấn với giá trị đạt 22 triệu USD.

giá chè xuất khẩu thấp hơn giá chè thái nguyên nội tiêu

giá chè xuất khẩu thấp hơn giá chè thái nguyên nội tiêu

Khối lượng xuất khẩu chè Thái Nguyên và chè cả nước 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 90 nghìn tấn. Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2017 đạt 1.569,5 USD/tấn. Giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường chè nguyên liệu trong nước trong tháng 8/2017 ổn định.

Tại Thái Nguyên, giá chè Thái Nguyên cành chất lượng cao giữ mức 255.000 đồng/kg, chè xanh búp khô ở mức 235.000 đồng/kg. Giá chè Thái Nguyên nguyên liệu sản xuất chè đen tăng 1.000 đồng/kg lên giữ mức 6.000 đ/kg sau khi tăng 1.000 đồng/kg vào tháng trước.

so với các nước trong khu vực, chè Việt Nam đang có giá xuất khẩu thấp nhất, chỉ bằng 60-70% giá chè thế giới. Nguyên nhân chính được cho là do mất an toàn thực phẩm và chất lượng chè chưa tốt. Việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh cho chè ở nhiều nơi còn khá tuỳ tiện. Thời gian qua, nhiều lô hàng xuất khẩu lên tới hàng tấn bị trả về do hàm lượng tạp chất và các chất không đạt tiêu chuẩn.

  1. Giá chè xuất khẩu tới đây tăng

Các chuyên gia và thương gia đều có chung nhận định giá che thai nguyen xuất khẩu trên thị trường thế giới sẽ tăng thêm nữa. Nguyên nhân là nguồn cung chè trên thế giới giảm mạnh do lũ lụt trầm trọng.

Sản lượng chè của Kenya – nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới – đã giảm hơn 1/3 khô hạn xảy ra ở nhiều khu vực trên đất nước này. Chè Thái Nguyên cũng bị hạn. Sản lượng chè của Ấn Độ quý I/2017 cũng giảm 16% so với cùng kỳ năm ngoái, từ mức 105,78 triệu kg xuống chỉ 88,61 triệu kg.

Để nâng cao chất lượng chè Thái Nguyên xuất khẩu, cần tích cực sản xuất chè an toàn. Đồng thời, Khuyến khích các tổ chức chứng nhận chất lượng như Utz Certificed, RFA tham gia chứng nhận sản xuất chè trên địa bàn cả nước. Như vậy mới không còn tình trạng Giá chè Thái Nguyên xuất khẩu giảm nữa.


Xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016

Xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016

Theo số liệu thống kê, khối lượng xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016 và các loại chè khác trên cả nước đầu năm 2016 đạt 94 nghìn tấn và 152 triệu USD, tăng 6,4% về khối lượng và tăng 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

nông dân trồng chè Thái Nguyên

1. Thông tin Xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016

  1. Cụ thể, khối lượng xuất khẩu chè tháng 9 năm 2016 ước đạt 12 nghìn tấn với giá trị đạt 19 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè, bao gồm chè Thái Nguyên 9 tháng đầu năm 2016 đạt 94 nghìn tấn và 152 triệu USD, tăng 6,4% về khối lượng và tăng 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Nhìn chung, chè Thái Nguyên cũng như chè Việt chủ yếu vẫn xuất khẩu vào các thị trường truyền thống dễ tính mà chưa thâm nhập được thị trường Nhật Bản,EU.
  2. Giá xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016 không có nhiều tiến triển. chè xuất khẩu bình quân 8 tháng năm 2016 đạt 1.609 USD/tấn, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm 2015. Trong 8 tháng, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam với 34,3% thị phần – giảm 1% về khối lượng và giảm 11,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh là Indonesia, Philippine, và Trung Quốc.
  3. Tại thị trường trong nước, trong tháng 8, giá chè Thái Nguyên tiếp tục giữ ổn định so với tháng trước. Giá chè xanh búp khô hiện ở mức 140.000 đồng/kg, chè cành chất lượng cao 280.000 đồng/kg, chè xanh búp khô (đã sơ chế loại 1) 230.000 đồng/kg. Giá chè Thái Nguyên ngoài thị trường nhân thêm khoảng 20% giá cơ sở này.

2. Xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016 tăng kém vì sao?

  1. Theo Cục Trồng trọt, cây chè đang đang tiếp tục xu hướng chuyển đổi, cải tạo, thay thế giống mới tại Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái, Lâm Đồng. Diện tích chè búp hiện có ước đạt 133,3 nghìn ha, bằng 100,6%; Sản lượng chè búp tươi ước đạt 454,7 nghìn tấn, bằng 100,4% năm trước.
  2. Theo Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam Nguyễn Hữu Tài, Xuất khẩu chè Thái Nguyên 9 tháng 2016 tăng kém là do chất lượng chè chưa đảm bảo. Điều này xuất phát từ thực tế hiện nay vẫn chưa có quy hoạch rõ ràng cho vùng nguyên liệu chè. Tại Thái Nguyên, giá một số loại chè trong tháng 1 chỉ nhích nhẹ so với một vài tháng trước. Cụ thể, giá chè cành chất lượng cao tăng 20.000 đồng/kg lên mức 220.000 đồng/kg. Giá chè xanh búp khô (đã sơ chế loại 1) tăng 10.000 đồng/kg lên mức 160.000 đồng/kg. Giá chè xanh búp khô (chưa sơ chế) vẫn ổn định ở mức 130.000 đồng/kg
  3. Hiện nay, nhiều nơi chỉ có một vùng nguyên liệu nhưng có nhiều doanh nghiệp trong ngành cùng “tranh nhau” mua. Do vậy, người dân trồng chè không được đầu tư, quan tâm đúng mức. Để cải thiện tình hình chất lượng chè xuất khẩu của Thái Nguyên và cả nước, cần có nhiều kế sách mưu mẹo hơn nữa. Trong đó, cần thiết có đề án tái cơ cấu ngành che thai nguyen nằm trong tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế mà Chính phủ đang triển khai.

Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè

Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè

Theo lãnh đạo Hiệp hội chè Việt Nam, cần tuyên truyền để người trồng chè Thái Nguyên và cả nước Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè, tránh nguy cơ tật bệnh.

1. Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè để bảo đảm sức khỏe giống nòi

Ngành chè Việt Nam trong đó có cộng đồng doanh nghiệp chè Thái Nguyên thời gian qua đau đầu vì các sản phẩm trà xuất khẩu bị trả lại do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), gây mất uy tín đối với các sản phẩm trà, làm giảm niềm tin của thị trường quốc tế. Nhiều lô hàng chè bị trả lại do các doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu ổn định, mua sản phẩm trà xanh trôi nổi từ tiểu thương và người dân. Vấn đề đặt ra là người làm chè, trong đó có số ít người làm chè Thái Nguyên hãy còn phun thuốc lung tung, không đúng chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly nên việc tồn dư thuốc BVTV trên chè là khó tránh khỏi.

Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật cũng khẳng định rằng, không khuyến khích kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Do đó, càng hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè có độ độc cao càng tốt, trước chính là để bảo vệ môi trường và sức khỏe giống nòi cho dân tộc, sau là tạo tiền đề để nông sản Việt Nam có đủ điều kiện ATVSTP xuất khẩu sang những thị trường khó tính nhưng giá bán cao…. Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thế giới qua TPP, nếu như không hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, làm sao xuất khẩu sang các thị trường này được.

Cần hạn chế sử dụng thuốc BVTV cho cây chè

Cần hạn chế sử dụng thuốc BVTV cho cây chè

  1. Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè như thế nào

Để Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè, cơ quan quản lí cần siết chặt và rút gọn lại danh mục các hoạt chất thuốc BVTV trên chè hiện nay. Cần có các nghiên cứu khoa học để đưa ra được danh mục tối ưu nhất, chỉ khoảng 15 – 20 hoạt chất. Lưu ý loại bỏ những hoạt chất có ảnh hưởng cực xấu đến sức khỏe con người nếu bị phơi nhiễm. Đồng thời, loại bỏ hẳn khỏi danh mục những hoạt chất mà những nước nhập khẩu chè Thái Nguyên, chè Việt Nam đang sử dụng làm hàng rào kỹ thuật. Có như vậy giá chè Thái Nguyên xuất khẩu mới lên cao, người dân mới có thu nhập, lại bán được chè ổn định.

Bên cạnh đó, thuốc BVTV được coi là một trong những vũ khí “giết người hàng loạt”, do đó cần cấm người dân tự ý sử dụng thuốc BVTV chứ không chỉ Hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè. Hạn chế phun thuốc BVTV theo ranh giới hộ gia đình như tại Việt Nam mà nên những bệnh viên cây trồng, thành lập những HTX và tổ hợp tác chuyên phun thuốc BVTV theo vùng sinh thái. Xét tới đạo đức kinh doanh trong thế giới phẳng như hiện nay, chúng ta không thể sản xuất ra những thứ độc hại rồi bán cho người dân nước khác dùng. Làm chè phải có tâm, thế nên cần tuyên truyền để người dân hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè Thái Nguyên, đặc biệt là thuốc cấm, không rõ nguồn gốc.